Giá trị nhân đạo tác phẩm Vợ nhặt được biểu hiện như thế nào?


Giá trị nhân đạo tác phẩm Vợ nhặt được biểu hiện như thế nào?

     "Vợ Nhặt" là một tác phẩm văn hóa độc đáo, thu hút độc giả bằng sự kết hợp tinh tế giữa tình yêu và giá trị nhân đạo. Tác phẩm này không chỉ là một câu chuyện lãng mạn, mà còn là một hành trình sâu sắc đối với những giá trị nhân đạo sâu sắc. Cùng khám phá giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt trong bài viết sau nhé!

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm

     Kim Lân (1921-2007) là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam đương đại. Truyện ngắn Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945. Tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam. Tác phẩm này đã thể hiện rõ sự khốn khó của cuộc sống vào những năm 1945. Nó cũng là một trong những tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc.

     Truyện kể về Tràng, một chàng trai xấu xí sống cùng mẹ ở xóm ngụ cư. Trong một lần đẩy hàng, Tràng tình cờ gặp gỡ Thị. Chỉ với câu đùa và bốn bát bánh đúc, Thị đã đồng ý theo làm vợ và theo Tràng về nhà. Cô thị theo không anh về làm vợ, trên đường về khác với vẻ đanh đá thường thấy, khi bị trêu, cô thị tỏ ra ngượng ngùng. Về đến nhà, cô khép nép khác thường. Khi bà cụ Tứ - mẹ anh Tràng về đến nhà, bà vừa ngạc nhiên, sững sờ vì có người gọi mình là mẹ; vừa đau buồn, tủi hổ, xót thương vì con mình lấy vợ đúng lúc khó khăn nhất không biết có qua nổi giai đoạn này không và người ta lấy con mình vì cái đói, cái khổ.

      "Vợ nhặt" của Kim Lân đã thổi làn gió mát, đem hi vọng vào tương lai tươi sáng cho người đọc bằng giá trị nhân đạo sâu sắc.

2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ Nhặt

      Hoàn cảnh sáng tác: Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí, tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư được Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết truyện ngắn này.

      Truyện viết về tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, đồng thời thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ ngay trên bờ vực của chết.

      Luận điểm 1: Xót xa thương cảm với cuộc sống bi thảm của người dân nghèo trong nạn đói năm 1945.

      Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư. Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bồng bế nhau lên, xám lại như những bóng ma. Buổi sáng nào cũng có vài người chết còng queo bên đường, tỏa mùi gây gây của xác chết.

      Toàn bộ câu chuyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy: Cảnh xóm ngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốt đống rấm. Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ.  Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì. Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới . Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ

      Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng: mái ấm gia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ, sáng lên niềm tin hy vọng của họ.

      Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ: Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là chuyện nghiêm chỉnh của đời mình.

      Cái đói khổ đã khiến cho con người bị rẻ rúng, mất đi giá trị:

      Điển hình là nhân vật người vợ nhặt, vì quá túng quẫn thị không quan tâm đến danh dự cứ vin vào lời nói đùa của Tràng mà “cong cớn đòi ăn”, còn chấp nhận theo không Tràng về làm vợ.

      Chính Tràng cũng vậy, vì quá nghèo khổ mà khó có thể lấy vợ, đến khi lấy được vợ cũng là nhờ hoàn cảnh éo le.

Luận điểm 2: Gián tiếp tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đối với nhân dân ta

      Trong đoạn cuối truyện, khi nghe tiếng trống thúc sưu thuế, bà cụ Tứ cũng tuyệt vọng kêu lên rằng: “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ”.

Luận điểm 3: Trân trọng những khát vọng nhân văn của con người

      Ngợi ca khát vọng sống mãnh liệt của con người: Một mặt ta thấy người vợ nhặt như mất nhân cách trong cảnh đói khổ, nhưng mặt khác đó lại là khát vọng sống mãnh liệt của thị, thị không từ bỏ bất cứ cơ hội nhỏ nhoi nào để được sống tiếp, ngay cả việc theo không người ta về làm vợ.

      Ở Tràng ta thấy có một khát vọng hạnh phúc chân thành, không phải vì ngờ nghệch mà anh dẫn người vợ nhặt về, sâu thẳm bên trong là khát khao có một gia đình như bao người bình thường khác.

      Vẻ đẹp của lòng thương người: vì tình thương người chân thành mà Tràng sẵn sàng mời thị ăn dù không dư dả, vì thương người mà bà cụ Tứ chấp nhận người con dâu được nhặt về dù trong cảnh đói khổ.

      Dù bị đẩy đến bước đường cùng, con người vẫn luôn có niềm tin vào cuộc sống:

      Người vợ nhặt nhắc đến cảnh đoàn người phá kho thóc để tạo niềm tin cho bà cụ Tứ và Tràng, bà cụ Tứ cũng dự tính những chuyện tương lai, khuyên bảo các con.

Luận điểm 4: Chỉ ra lối thoát để con người hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn.

      Từ câu chuyện phá kho thóc mà người vợ nhặt kể và hình ảnh đám người đói, lá cờ đỏ trong suy nghĩ của Tràng là những dấu hiệu của cuộc cách mạng, khiến người đọc có thể tin tưởng vợ chồng Tràng sẽ có mặt trong đoàn người vùng lên tổng khởi nghĩa.

       Tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳng định phẩm chất và sức sống bền bỉ của họ, đặt niềm tin vào những khát vọng bình dị mà chân chính để sống, khát khao tình thương và sự gắn bó, nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.

      Giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt được thể hiện qua việc miêu tả các nhân vật trong truyện. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, các nhân vật trong truyện luôn giữ được lòng tự trọng và lòng yêu thương lẫn nhau. Đặc biệt, tình yêu giữa Tràng và Thị được miêu tả rất chân thành và sâu sắc. Cả hai đã cùng chia sẻ khó khăn để có được hạnh phúc cho riêng mình.

      Ngoài ra, tác phẩm “Vợ nhặt” còn thể hiện giá trị nhân đạo qua việc miêu tả cuộc sống của người dân nghèo trong xóm ngụ cư. Tác giả đã cho chúng ta thấy rõ cuộc sống khốn khó của họ và sự hy sinh để giúp đỡ lẫn nhau trong hoàn cảnh khó khăn.

      Tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm này đã cho chúng ta thấy rõ lòng yêu thương và lòng tự trọng của con người dù trong hoàn cảnh khó khăn.

3. Tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân có ảnh hưởng như thế nào đến nền văn học Việt

      “Vợ Nhặt” của Kim Lân được xem là một trong những tác phẩm nổi bật của văn học Việt Nam. Tác phẩm đã tái hiện hiện thực của cuộc sống nghèo khổ của nhân dân cũng như đã phản ánh lên được giá trị nhân đạo rất sâu sắc. Tác phẩm này đã góp phần làm cho văn học Việt Nam phát triển hơn, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc

     Tác phẩm đã được đánh giá là một trong những tác phẩm văn học có ảnh hưởng lớn đến nền văn học Việt Nam. Tác phẩm này đã giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ - những người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng 

     Cùng đó Vợ Nhặt cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học Việt Nam, cũng như được đánh giá cao ở nhiều quốc gia trên thế giới.

     "Vợ Nhặt" là một tác phẩm văn hóa độc đáo, mê hoặc độc giả bằng sự kết hợp tinh tế giữa tình yêu và giá trị nhân đạo. Tác phẩm này không chỉ là một câu chuyện lãng mạn, mà còn là một hành trình sâu sắc đối với những giá trị nhân văn, đồng thời làm nổi bật tầm quan trọng của sự chăm sóc môi trường. Để cập nhật thêm các thông tin liên quan hoặc thông tin mới nhất các bạn có thể liên hệ với chúng tôi.

Liên hệ : 1900633720

Bài viết tham khảo:

Những tác phẩm Việt Nam về chủ đề văn học hiện thực hay nhất

Tổng đài Chợ Tốt

 

402